Monday, 24/02/2020 - 15:30|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường THCS Đại Ân 1

SKKN môn địa

Sáng kiến kinh nghiệm. Một số biện pháp giúp học sinh tích cực chủ động trong giờ học Địa lý

                           PHẦN I. MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài             

Trước những yêu cầu của xã hội, thời đại và sự phát triển của khoa học - kĩ thuật, mục tiêu dạy học môn Địa lý ngày nay không chỉ đơn thuần là cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng địa lý cho học sinh mà qua đó phải góp phần cùng với các môn học khác đào tạo ra những con người có tính sáng tạo, năng động, năng lực công tác làm việc, năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết những tình huống, những vấn đề của xã cuộc sống xã hội. Để đạt được mục tiêu nói trên thì việc đổi mới phương pháp dạy học là rất quan trọng. Do đó khi đổi mới phương pháp dạy học phải chú ý đến đặc trưng và phương pháp của môn học. Vì vậy, trong dạy học Địa lý việc rèn luyện tính tích, chủ động học tập của học sinh là rất cần thiết để góp phần nâng cao chất lương dạy học. Từ thực tế dạy học ở bộ môn Địa lý tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp giúp học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo trong giờ học môn Địa lý Trung học cơ sở (THCS).

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục đích nghiên cứu

Đề tài sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp giúp học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo trong giờ học môn Địa lý” đặt ra mục đích tìm hiểu và đánh giá tình hình đổi mới phương pháp giảng dạy nói chung và đổi mới phương pháp giảng dạy môn Địa lý nói riêng. Phân tích mục đích, vai trò và hiệu quả đổi mới phương pháp giảng dạy đối với môn Địa lý. Qua đó đưa ra một số phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của giáo viên và khả năng chủ động, sáng tạo của học sinh, nhằm đạt được mục tiêu của ngành là chuyển từ lấy “Dạy” làm trung tâm sang lấy “Học” là trung tâm.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lí luận của một số phương pháp giảng dạy.

- Một số phương pháp giảng dạy minh họa cho môn Địa lý theo hướng đổi mới.

3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Một số phương pháp nhằm giúp học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập môn Địa lý lớp 9.

3.2. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu

Trong chương trình Địa lý 9 và học sinh khối 9 trường THCS Đại Ân 1.

4. Phương pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp quan sát

Đây là phương pháp giúp ta quan sát thái độ, hành vi của học sinh, phát hiện ra những hành vi, cử chỉ của học sinh trong học tập, sinh hoạt. Để phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh.

4.2. Phương pháp thực nghiệm

Khi tiến hành nghiên cứu tạo ra một số tình huống, những hoàn cảnh, những điều kiện rất gần gũi của cuộc sống để đưa đối tượng vào vấn đề, từ đó nghiên cứu thu lại được những tư liệu cần thiết. Đây là một phương pháp hết sức quan trọng và rất cần thiết trong nghiên cứu khoa học.

4.3. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Qua phương pháp này làm cho người giáo viên thấy được những thiếu sót của học sinh để có phương pháp làm cho hoạt động của mình đạt chất lượng cao.

4.4. Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm

Nhờ phương pháp này mà người nghiên cứu có thể tổng hợp, đúc rút kinh nghiệm của giáo viên chỉ đạo về việc phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinh qua các mặt hoạt động học tập, lao động, sinh hoạt tập thể và hoạt động ngoại khoá, từ đó rút ra bài học và nêu được những biện pháp khắc phục và đề xuất.

4.5. Phương pháp đàm thoại

Phương pháp đàm thoại là một hình thức tốt nhất để giáo viên có thể gần gũi các em. Qua đó chúng ta có thể biết tâm sự, tình cảm, nguyện vọng của các em về việc học ở lớp cũng như việc học ở nhà của các em như thế nào? Để từ đó, giáo viên có phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thích hợp nhằm đạt kết quả tốt nhất.

4.6. Phương pháp thống kê, tính toán

Phương pháp thống kê tính toán, qua những thông tin tài liệu thu thập được, tôi đã vận dụng phương pháp này để thống kê lại tình hình và tính toán các số liệu cần thiết để biết được chất lượng học tập của học sinh thời gian sau so với thời gian trước.

5. Tính mới của sáng kiến

Đề tài này tôi đưa ra một số phương pháp nhằm giúp học sinh nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn. Xem việc học là một quá trình kiến tạo, giúp học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, khai thác và xử lí thông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất.

Phương pháp dạy học này đã khắc phục được tình trạng học sinh chỉ tiếp thu kiến thức một cách thụ động trước sự hướng của giáo viên, tạo cho học sinh hoạt động nhiều hơn, thực hành nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn để giải quyết những vấn đề đặt ra dựa trên kiến thức cũ, kinh nghiệm sống, qua sự dẫn dắt của giáo viên tạo cho học sinh “nhu cầu bức xúc” để tự giải đáp thắc mắc.

PHẦN II. NỘI DUNG

1. Cơ sở lý luận

Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế. Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế là con người, là nguồn lực người Việt Nam được phát triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao. Việc này cần được bắt đầu từ giáo dục phổ thông, mà trước hết phải bắt đầu từ việc xác định mục tiêu đào tạo như là xác định những gì cần đạt được (đối với người học) sau một quá trình đào tạo. Nói chung đó là một hệ thống phẩm chất và năng lực được hình thành trên một nền tảng kiến thức, kỹ năng đủ và chắc chắn.

Luật giáo dục 2005 (Điều 5) quy định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”.

Với mục tiêu giáo dục phổ thông là “giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng bảo vệ Tổ quốc”.

Trong chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”.

2. Cơ sở thực tiễn

2.1. Thuận lợi

Trong những năm gần đây việc học bộ môn Địa lý đã được học sinh quan tâm hơn, có đủ các phương tiện để phục vụ cho học tập đặc biệt là vở bài tập, tập bản đồ, sách tham khảo... Học sinh đã quen thuộc với cách học mới, tích cực chủ động hơn trong việc phát hiện kiến thức, có ý thức tự giác trong làm bài tập, chuẩn bị bài mới. Qua kiểm tra và chấm vở bài tập của học sinh cho thấy phần lớn học sinh đã đầu tư thời gian cho việc làm bài tập, làm bài đầy đủ có chất lượng, chịu khó tìm tòi những kiến thức thực tế khi giáo viên yêu cầu.

2.2. Khó khăn

Tuy nhiên, việc học tập của học sinh vẫn còn một số tồn tại sau:

- Một số ít học sinh chưa có ý thức học tập tốt, thiếu tính tích cực chủ động trong học tập đặc biệt là trong việc hoạt động nhóm.

- Một số học sinh không chịu khó trong việc làm bài tập ở nhà, thậm chí còn mượn bài tập của bạn để chép lại một cách thụ động.

3. Biện pháp giúp học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo trong giờ học môn Địa lý

Dạy học theo phương pháp giải quyết vấn đề là hình thức dạy học mà người giáo viên phải tổ chức được tình huống có vấn đề giúp học sinh nhận thức được tình huống, chấp nhận giải quyết và tìm kiếm được kiến thức trong quá trình hoạt động hợp tác giữa thầy và trò, phát huy tối đa tính tích cực của học sinh kết hợp với sự hướng dẫn của giáo viên. Các bước thực hiện như sau:

3.1. Xây dựng tình huống có vấn đề

Trong một tiết lên lớp để tạo nên tình huống có vấn đề, trước hết cần: tìm hiểu vấn đề, sau đó xác định được vấn đề cần giải quyết, đưa ra những giả thiết khác nhau để giải quyết vấn đề, thử nghiệm giải pháp thích hợp nhất, hiệu quả nhất.

Ví dụ: Khi dạy bài 36 - Vùng đồng bằng Sông Cửu Long, mục IV “Tình hình phát triển kinh tế’’. Đây là vùng trọng điểm lương thực, thực phẩm đồng thời là vùng xuất khẩu nông sản hàng đầu của cả nước. Giáo viên phải xây dựng được vấn đề yêu cầu học sinh giải quyết là: Vì sao Đồng bằng Sông Cửu Long trở thành vùng sản xuất lương thực lớn nhất nước ta?

Để giải quyết được vấn đề này học sinh phải dựa vào các điều kiện tự nhiên - xã hội đã học ở lớp 8 và phần đầu của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long để hoàn thành nội dung theo yêu cầu.

3.2. Giải quyết vấn đề

Sau khi đã tạo được tình huống có vấn đề, giáo viên hướng dẫn học sinh tiến hành giải quyết từng vấn đề. Tùy theo từng nội dung cần giải quyết mà áp dụng mức độ phù hợp từ dễ đến khó, theo các cách sau:

3.2.1. Mức độ 1

Với câu hỏi ở mức độ dễ thì giáo viên đặt vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết. Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề. Giáo viên và học sinh cùng đánh giá.

Ví dụ: Khi dạy Địa lý tỉnh Sóc Trăng: Phần liên hệ huyện Cù Lao Dung, giáo viên nêu câu hỏi: Huyện Cù Lao Dung có mấy xã, thị trấn? Để giúp học sinh giải quyết được vấn đề này, giáo viên cần gợi ý cho học sinh kể tên các xã, thị trấn. Với sự gợi ý đó, học sinh sẽ dễ dàng tổng hợp được toàn huyện có bao nhiêu xã, thị trấn.

3.2.2. Mức độ 2

Nếu những nội dung giáo viên đưa ra khó học sinh không tự giải quyết được giáo viên nên áp dụng như sau: Giáo viên đặt vấn đề rồi nêu cách giải quyết. Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên. Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của học sinh.

Ví dụ: Khi dạy bài 25 - Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, mục II “Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên”. Giáo viên nêu vấn đề cần giải quyết như sau:

? Dựa vào hình 26.1 hãy nhận xét địa hình của vùng? Đây là nội dung không phải học sinh nào cũng biết, vì vậy giáo viên phải hướng dẫn và nêu cách giải quyết vấn đề theo các bước sau: Gợi ý bằng các câu hỏi: phía Tây, phía Đông có dạng địa hình gì? Học sinh sẽ dể dàng trả lời được phía Tây là đồi núi, phía Đông là đồng bằng. Từ đó học sinh sẽ nhận xét được địa hình của vùng thấp dần từ Tây sang Đông. Với phần này, giáo viên tự đánh giá kết quả trả lời của học sinh để khẳng định kiến thức.

3.2.3. Mức độ 3

Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống. Học sinh phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự lực đề xuất các giả thiết và lựa chọn giải pháp. Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần. Giáo viên và học sinh cùng đánh giá.

Ví dụ: Khi dạy bài 39 - Phát triển tổng hợp kinh tế và bảo vệ tài nguyên môi trường biển đảo, mục 3 “Khai thác và chế biến khoáng sản biển”. Giáo viên cung cấp cho học sinh một số thông tin về ngành dầu khí như sau: Dầu khí là ngành kinh tế mũi nhọn, chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hiện nay, nước ta đã xây dựng nhà máy Khí - Điện - Đạm ở Vũng Tàu, Cà Mau bước đầu chế biến dầu khí phục vụ cho phát điện, sản xuất phân đạm. Sau khi cung cấp cho học sinh những thông tin trên, giáo viên yêu cầu học sinh nhận xét về triển vọng của ngành dầu khí ở nước ta. Học sinh dựa vào những hiểu biết thực tế về ngành dầu khí, nêu được triển vọng của ngành như sau:

- Từ năm 1999 dầu thô khai thác được là 15,2 triệu tấn.

- Năm 2000 là 16,2 triệu tấn.

- Năm 2002 là 16,9 triệu tấn.

Qua các số liệu đó, học sinh kết luận được: lượng dầu thô khai thác của nước ta tăng liên tục từ năm 1999 đến năm 2002 và có nhiều triển vọng cho ngành khai thác dầu khí nước ta. Như vậy, trong dạy học đặt và giải quyết vấn đề giáo viên đưa học sinh vào tình huống có vấn đề rồi giúp học sinh giải quyết vấn đề được đặt ra. Bằng cách đó, học sinh vừa nắm được kiến thức mới, vừa phát triển tư duy tích cực, sáng tạo và có khả năng vận dụng kiến thức vào giải quyết tình huống mới.

3.3. Các bước của dạy học giải quyết vấn đề

3.3.1. Giải thích vấn đề

Tất cả học sinh đều phải nắm được vấn đề giáo viên đưa ra, những điều mà một thành viên chưa rõ cần được các thành viên khác giải thích thông qua thảo luận để làm rõ vấn đề.

3.3.2. Thu thập các vấn đề liên quan

Các thành viên trong nhóm cùng nhau thu thập các nội dung cần làm rõ nằm trong vấn đề cần giải quyết theo nhận thức của nhóm: Tập hợp các kiến thức được đưa ra, xác định rõ trọng tâm của nội dung cần đạt sau khi có sự thống nhất của nhóm.

3.3.3. Tập hợp các ý kiến của nhóm

 Tập hợp các kiến thức, những dự đoán của nhóm xung quanh vấn đề cần giải quyết và trình bày dưới hình thức mà cả nhóm dễ tiếp thu, theo dõi thông qua phiếu học tập hoặc các bảng biểu có liên quan.

3.3.4. Xác định mục đích học tập cần đạt

Xác định những nội dung nào đã biết, những nội dung nào cần tìm hiểu, cùng nhau xác định rõ những mục tiêu học tập nhằm mở rộng những tri thức đã có.

3.3.5. Tập hợp và thảo luận các nội dung đã nghiên cứu

- Hiện nay hoạt động nhóm có nhiều ưu điểm nổi bật, giúp học sinh phát huy tối đa tính chủ động, tích cực trong giờ học. Thực tế ở các nước phát triển ta thấy hoạt động nhóm tổ chức tốt thì sẽ giải quyết được nhiều vấn đề trong giờ học, học tập có chất lượng, rèn được kĩ năng nói, viết cho học sinh. Khi cho học sinh hoạt động theo nhóm, tùy theo bài mà giáo viên có thể phân ra các nhóm nhỏ, lớn để thu hút học giải quyết vấn đề có hiệu quả.
    - Các bước tiến hành:
    + Bước 1: Hình thành các nhóm làm việc: tổ chức nhóm, chỉ định chỗ làm việc của các nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm.
    + Bước 2: Các nhóm thực hiện công việc: thảo luận, trao đổi ý kiến, đưa ra kết luận chung, cử đại diện trình bày kết quả của nhóm trước lớp.
    + Bước 3: Tổng hợp kết quả của các nhóm: đại diện các nhóm trình bày, các nhóm khác nghe và nhận xét, bổ sung nếu thiếu sót.
    + Bước 4: Giáo viên tóm tắt ý kiến phản hồi của các nhóm sau đó cùng cả lớp chốt lại nội dung chủ yếu của bài học. Giáo viên nhận xét kết quả làm việc của từng nhóm và tổng kết lại kiến thức.

3.3.6. Nhận xét rút kinh nghiệm về tiến trình, phương pháp làm việc của từng nhóm

Có thể cho các nhóm đánh giá lẫn nhau hoặc giáo viên đánh giá.

3.4. Dạy học giải quyết vấn đề thông qua sử dụng các thiết bị dạy học                          

Thực tế dạy học cho thấy việc quan sát và khai thác kiến thức của học sinh đối với các thiết bị dạy học chỉ đạt hiệu quả nếu trước khi cho học sinh quan sát nhận xét, giáo viên đưa ra vấn đề cần giải quyết nhằm giúp học sinh biết được cần phải quan sát cái gì? Phân tích nội dung gì? Giải thích nguyên nhân, nhận xét và khai thác kiến thức như thế nào?

Ví dụ: Khi dạy 32 - Vùng Đông Nam Bộ, mục 1 “Công nghiệp”. Giáo viên cho học sinh khai thác lược đồ kinh tế vùng Đông Nam Bộ. Trước khi học sinh tiến hành khai thác lược đồ, giáo viên cần đưa ra các yêu cầu sau:

? Tìm trên lược đồ các trung tâm công nghiệp của vùng, các ngành công nghiệp của từng trung tâm công nghiệp?

? Giải thích vì sao thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm công nghiệp lớn nhất của vùng?

Sau khi đã nắm được vấn đề cần giải quyết mà giáo viên đã định hướng trước, học sinh sẽ tập trung vào khai thác ngay nội dung chính để nắm được các trung tâm công nghiệp là: Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Biên Hòa. Trong đó thành phố Hồ Chí Minh tập trung nhiều ngành công nghiệp nhất: Năng lượng, luyện kim, cơ khí, hóa chất, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến lâm sản, chế biến lương thực thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và là trung tâm công nghiệp lớn nhất của vùng cũng như của cả nước.

3.5. Hệ thống câu hỏi trong dạy học giải quyết vấn đề

Các câu hỏi phải thể hiện rõ ràng về yêu cầu và mức độ nhận thức khác nhau đối với học sinh. Câu hỏi để phân loại và phát triển tư duy địa lý cho học sinh cần có các mức độ khác nhau từ đọc các đối tượng địa lý đến phân tích, so sánh, xác định các mối quan hệ giữa các đối tượng địa lý. Câu hỏi có tác dụng dẫn dắt học sinh biết, hiểu được đặc điểm đặc trưng của các đối tượng địa lý và có cách nhìn tổng hợp giữa các đối tượng địa lý qua các mối quan hệ giữa chúng.

Ví dụ: Khi dạy bài 38 - Phát triển tổng hợp kinh tế và bảo vệ tài nguyên môi trường biển đảo.

Giáo viên cần đưa ra các câu hỏi:

? Tại sao phải phát triển tổng hợp các ngành kinh tế biển?

? Công nghiệp chế biến thủy sản phát triển sẽ có tác động như thế nào tới ngành đánh bắt và nuôi trồng thủy sản?

Những câu hỏi như vậy thể hiện rõ mối quan hệ giữa các ngành kinh tế biển với nhau mà học sinh cần giải quyết, đòi hỏi học sinh phải tích cực vận dụng các mối quan hệ giữa các ngành kinh tế để trả lời câu hỏi. Để phát huy cao độ tính tích cực học tập của học sinh, giáo viên phải dựa trên nội dung bài học, nội dung các thiết bị dạy học để nêu câu hỏi thành một số vấn đề cầc làm sáng tỏ và hướng dẫn học sinh tự làm việc với các phương tiện học tập. Giáo viên cần chú ý yêu cầu học sinh khai thác các nội dung kiến thức trong mỗi phương tiện, dựa vào đó để phân tích, đánh giá, so sánh, giải thích trong suốt quá trình dạy học ở trên lớp, ở nhà và trong cả khi kiểm tra, đánh giá. Chúng ta biết rằng, các đối tượng, sự vật, hiện tượng địa lý tồn tại trong những mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Vì vậy trong dạy học Địa lý, để giúp học sinh hiểu được đặc trưng của các đối tượng, sự vật địa lý và hiểu được bản chất của những mối quan hệ đó, giáo viên phải hướng dẫn học sinh sử dụng kết hợp các nội dung kiến thức với thiết bị dạy học để đối chiếu, so sánh, phân tích, tổng hợp để rút ra kết luận, giải quyết vấn đề giáo viên yêu cầu. Việc sử dụng kết hợp các loại phương tiện này sẽ kích thích hứng thú học tập của học sinh giúp học sinh chủ động, sáng tạo trong hoạt động nhận thức.

Ví dụ: Khi dạy Bài 6 - Sự phát triển nền kinh tế Việt Nam, mục II “Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế”.

Để giúp học sinh giải quyết được vấn đề cần đặt ra là: Nhận xét về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước ta, giáo viên phải hướng dẫn học sinh kết hợp quan sát biểu đồ hình 6.1 sách giáo khoa (Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu GDP từ năm 1991 đến năm 2002), vừa kết hợp quan sát lược đồ các khu vực kinh tế đồng thời phải nắm được các nội dung kiến thức trong sách giáo khoa. Như vậy, để giải quyết được một vấn đề đòi hỏi phải có sự kết hợp nhiều yếu tố địa lý có liên quan mới đưa ra được kết luận đúng. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch mạnh mẽ: giảm tỉ trọng của khu vực nông – lâm – ngư nghiệp, tăng tỉ trọng của khu vực công nghiệp – xây dựng, khu vực dịch vụ chiếm tỉ trọng cao nhưng còn biến động. Cùng với chuyển dịch cơ cấu ngành là hình thành hệ thống vùng kinh tế với các trung tâm công nghiệp mới, các vùng chuyên canh nông nghiệp và sự phát triển các thành phố lớn. Hình thành ba vùng kinh tế trọng điểm: Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

3. 6. Cách tổ chức hoạt động trong dạy học giải quyết vấn đề

- Trong dạy học giải quyết vấn đề, cần chú ý sử dụng mọi biện pháp thúc đẩy học sinh mạnh dạn nêu thắc mắc và khéo léo sử dụng thắc mắc đó để tạo nên tình huống có vấn đề, thu hút toàn lớp tham gia thảo luận, tranh luận để giải quyết vấn đề đó. Như vậy có thể góp phần lấp lỗ hỏng, chữa những sai lầm hoặc hiểu chưa chính xác những nội dung học tập của học sinh.

- Cần có thái độ bình tĩnh khi học sinh trả lời sai hoặc thiếu chính xác, tránh thái độ nôn nóng, vội vàng cắt ngang ý kiến của học sinh khi không thật cần thiết. Chú ý uốn nắn, nhận xét, bổ sung câu trả lời của học sinh, giúp học sinh hệ thống hóa tri thức tiếp thu được.

- Tạo không khí thoải mái trong lớp học để học sinh không quá lo ngại khi trả lời, các học sinh yếu kém không mặc cảm, tự ti về trình độ nhận thức của mình, khuyến khích, động viên sự cố gắng của các em.

3.7. Hướng dẫn phương pháp học tập cho học sinh

Dù dạy học theo phương pháp nào đó thì mục đích cuối cùng là học sinh nắm được kiến thức và biết vận dụng tốt. Nếu giáo viên dạy tốt mà không hướng dẫn cho học sinh cách học tốt thì chắc chắn kết quả sẽ không như mong muốn.

Vì vậy giáo viên cần chú ý hướng dẫn cách học cho học sinh theo những định hướng sau:

- Yêu cầu học sinh phải tự giác, tích cực và tạo thói quen tư duy, tích cực tham gia xây dựng bài.

- Phải thường xuyên liên hệ kiến thức đã được học với kiến thức thực tế qua quan sát hoặc qua các phương tiện thông tin và ngược lại từ kiến thức hiểu được qua thực tế để rút ra bài học trên lớp.

- Hướng dẫn cho học sinh thường xuyên đưa ra những câu hỏi, những thắc mắc cần giải quyết, điều đó giúp học sinh có ý thức trách nhiệm hơn trong việc tự giải quyết vấn đề và sẽ hiểu bài tốt hơn, nhớ lâu hơn vì có chủ định.

- Trong học tập cần có sự so sánh, đối chứng, phân tích các bảng, biểu, lược đồ để nắm kiến thức một cách chắc chắn.

- Yêu cầu học sinh phải có sự hợp tác tốt trong hoạt động nhóm, mạnh dạn thể hiện ý kiến của mình trước nhóm, tích cực tham gia tranh luận những vấn đề còn vướng mắc để cùng làm sáng tỏ vấn đề cần giải quyết.

- Tập cho học sinh thói quen quan sát, ghi lại những hiện tượng, đối tượng địa lí và tự đặt câu hỏi, giải thích để đưa ra nhận định.

- Thường xuyên làm bài tập, có thói quen tốt trong việc trao đổi với bạn nếu có những vấn đề chưa hiểu rõ.

4. Những kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm

      * Kết quả khảo sát đầu năm ở khối 9 năm học 2018 - 2019 đạt được kết quả như sau: 

Khối

 Tổng

  số

Giỏi

Khá

Tb

Yếu

TS

 TL

 (%)

 TS

TL

(%)

 TS

TL

(%)

TS

TL

(%)

  9

80

18

22.5

28

35.0

32

40.0

02

2.5

 * Kết quả đạt được cuối năm học 2018 - 2019:

Khối

Tổng

số

Giỏi

Khá

Tb

Yếu

TS

 TL

 (%)

TS

TL

(%)

TS

TL

(%)

TS

TL

(%)

  9

80

37

46.3

33

41.2

10

12.5

0.0

0.0

  Với việc áp dụng cách dạy học như đã nêu trên kết hợp những giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học, kết quả chất lượng bộ môn Địa lý 9 mà tôi phụ trách trong năm học cho thấy tỉ lệ học sinh giỏi, khá tăng lên còn tỉ lệ học sinh trung bình, yếu giảm xuống rõ rệt.

Qua thực tế giảng dạy vận dụng sáng kiến kinh nghiệm trên, bản thân thấy được những kinh nghiệm bổ ích sau: Người giáo viên phải thực sự tâm huyết với nghề nghiệp, mẫu mực với học sinh, phải luôn luôn nghiên cứu tài liệu, sách tham khảo trong mổi tiết dạy đồng thời giáo viên cũng chuẩn bị những đồ dùng dạy học cần thiết và càng có hiệu quả hơn nếu giáo viên ứng dụng tốt công nghệ thông tin trong giảng dạy. Giáo viên phải giúp học sinh tự mình lựa chọn phương pháp học thích hợp tùy theo từng kiểu bài. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh vận dụng linh hoạt các phương pháp giải quyết vấn đề.

Trong tất cả các bài học giáo viên cần rèn luyện tính tích cực học tập của học sinh thông qua phương pháp dạy học giải quyết vấn đề. Giáo viên cần hiểu rõ khả năng tiếp thu bài của từng đối tượng học sinh để từ đó đưa ra những phương pháp dạy học phù hợp giúp học sinh hứng thú học tập và yêu thích môn Địa lý hơn. 

PHẦN III. KẾT LUẬN                  

1. Đánh giá chung

Dạy học giải quyết vấn đề là một trong những phương pháp dạy học tích cực nhằm tổ chức cho học sinh tự tìm tòi, phát hiện, giải quyết các vấn đề nhận thức có hiệu quả, học sinh phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo trong học tập. Để tổ chức các hoạt động học tập có hiệu quả giáo viên phải lựa chọn nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp với mục tiêu bài học và trình độ nhận thức của học sinh. Có làm được như vậy mới góp phần giúp học sinh yêu thích và say mê học tập bộ môn Địa lý hơn. Trong dạy học Địa lý là rèn luyện tính tích cực học tập của học sinh qua phương pháp dạy học giải quyết vấn đề nhằm góp tiếng nói của mình vào công cuộc đổi mới giáo dục phổ thông nói chung và nâng cao chất lượng dạy học của trường THCS Đại Ân 1.

2. Đề xuất, kiến nghị

 Cần trang bị cho giáo viên thêm những tài liệu tham khảo cần thiết để bổ sung, hỗ trợ cho giáo viên trong quá trình giảng dạy. Với những sáng kiến kinh nghiệm hay theo tôi nên phổ biến để cho giáo viên được học tập và vận dụng. Có như thế tay nghề và vốn kiến thức của giáo viên sẽ được nâng cao.

Qua quá trình thực hiện đề tài đã mang lại hiệu quả thiết thực. Tuy chưa hoàn chỉnh về nội dung và các biện pháp thực hiện chưa phải là tối ưu, nhưng tôi mong rằng đề tài này là một kinh nghiệm giúp các bạn đồng nghiệp vận dụng vào thực tiễn trường mình mang lại nhiều kết quả khả quan và tôi sẽ còn tiếp tục áp dụng nghiên cứu mở rộng các khía cạnh của đề tài trong năm học tới nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập môn Địa lý.

Tuy nhiên do năng lực và kinh nghiệm của bản thân còn nhiều hạn chế nên đề tài sẽ không tránh được sai sót, tôi rất mong sự góp ý kiến của quý thầy cô, các bạn đồng nghiệp để cho đề tài được hoàn chỉnh và có tính khả thi hơn.

 Tôi xin trân thành cảm ơn!

   

   Đại ân 1, ngày … tháng … năm 2019

                                         Người viết sáng kiến

 

 

                                     Nguyễn Hoài Khoa

 

 

Bài tin liên quan
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 4
Hôm qua : 9
Tháng 02 : 278
Năm 2020 : 753